thứ 704192014

Cập nhật01:18:53 AM

Phạm Ngọc Thảo (1922-1965)

Đại tá Phạm Ngọc Thảo (1922-1965), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, nguyên Phó Phòng Mật vụ Ban Quân sự Nam Bộ.


‘’Các nhà tình báo thông thường có nhiệm vụ giấu mình, thu thập, khai thác tin tức chuyển về trung tâm. Riêng Phạm Ngọc Thảo đi thẳng vào hàng ngũ kẻ thù, tung hoành hoạt động vì Tổ quốc cho tới tận lúc hy sinh, trường kỳ mai phục và “độc lập tác chiến”. Anh là nhà tình báo có một không hai’’ (Nhà báo Trần Bạch Đằng, nguyên Phó Ban tuyên huấn Trung ương cục miền Nam).

‘’Anh Phạm Ngọc Thảo đã nhận một nhiệm vụ đặc biệt, chưa từng có “tiền lệ” trong công tác cách mạng của chúng ta” (Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt)Phạm Ngọc Thảo sinh năm 1922, là con thứ tám trong một gia đình giàu có nhất nhì đồng bằng sông Cửu Long, công giáo ba đời rất mực yêu nước. Ông sinh tại Sài Gòn nhưng nguyên quán lại ở Bến Tre.

Cha ông, Adrian Phạm Ngọc Thuần có tới hơn 4000 mẫu đất và gần 1000 căn nhà rải rác ở khắp các tỉnh Cần Thơ, Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá, Sa Đéc, Vĩnh Long. Ông Thuần có quốc tịch Pháp nên các con đều được sang Pháp học. Con trai cả Gaston Phạm Ngọc Thuần, qua Pháp học từ lúc 6 tuổi, đậu cử nhân Luật về nước theo cách mạng làm tới Phó Chủ tịch uỷ ban kháng chiến Nam Bộ. Con thứ 7 Phạm Ngọc Hùng học ở Pháp, lấy vợ Pháp rồi về Việt Nam ra chiến khu chiến đấu, làm Uỷ viên Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam.

Trong gia đình, chỉ riêng ông không sang Pháp du học do thế chiến thứ hai xảy ra. Lúc nhỏ ông theo học tại một trường tư nổi tiếng ở Sài Gòn, trường trung học công giáo Taberd.Tốt nghiệp trường Kỹ sư công chánh ở Hà Nội, khi Pháp bội ước quay lại xâm chiếm Việt Nam, ông tuyên bố huỷ bỏ quốc tịch Pháp của mình và đi theo cách mạng, làm việc ở Văn phòng Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ.

Năm 1946, trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, trường sỹ quan đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam được thành lập để đào tạo cán bộ quân sự chuẩn bị cho kháng chiến. Ông cùng 12 chiến sỹ Nam Bộ khác được cử ra Sơn Tây học tập. Tốt nghiệp khoá học, ông được điều về Phú Yên nhận nhiệm vụ làm giao liên. Lúc này Trung ương đang cử nhiều đoàn cán bộ vào tăng cường cho miền Nam. Trong thời gian này, ông đã làm nhiệm vụ đưa ông Lê Duẩn (sau này là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam) vào Nam chỉ đạo kháng chiến an toàn bằng con đường công khai.

Sau đó, ông được trên tin cậy giao chức Trưởng phòng mật vụ Ban quân sự Nam Bộ – tổ chức tình báo đầu tiên của cách mạng ở Nam Bộ. Rồi được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 410(Quân khu 9) (có tài liệu nói là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 307 Quân khu 8, chi tiết này không đúng). Năm 1954, ônh được điều ra Bắc và được đích thân ông Lê Duẩn giao nhiệm vụ trở về Nam hoạt động trong lòng địch.

Trở về miền Nam, ông làm nghề dạy học tại một số trường tư thục Sài Gòn. Vì không chịu ký tên vào giấy “hồi chánh” nên ông đã bị mật vụ Pháp (do Mai Hữu Xuân cầm đầu) vây bắt mấy lần, nhưng ông đều trốn thoát. Cuối cùng ông về Vĩnh Long dạy học để dễ dàng xâm nhập vào hàng ngũ địch. Vì vùng đất này thuộc địa phận của giám mục Ngô Đình Thục (anh trai của Ngô Đình Diệm). Gia đình ông vốn theo Thiên chúa giáo lâu đời, thân thiết với giám mục Ngô Đình Thục. Giám mục Ngô Đình Thục rất quý mến ông vì đã từng làm lễ rửa tội cho ông và coi ông như con nuôi. Nhờ chính sách “đả thực bài phong”, của Ngô Đình Diệm, ông được Ngô Đình Thục giới thiệu với anh em Diệm – Nhu. Ông khôn khéo công khai hết nguồn gốc của mình, kể cả chức tiểu đoàn trưởng cũ, chỉ trừ một điều: mình là Đảng viên Đảng CSVN. Được bảo đảm về chính trị, ông đã cùng vợ con trở lại Sài Gòn sinh sống.

Đầu năm 1956, ông làm việc tại Ngân hàng quốc gia Sài Gòn. Tháng 5 năm 1956 được sự giới thiệu của Huỳnh Văn Lang, Tổng giám đốc Viện Hối đoái và Bí thư Liên kỳ bộ Nam Bắc Việt của đảng Cần Lao, Phạm Ngọc Thảo được cử đi học khóa huấn luyện tại trung tâm Nhân vị tại Vĩnh Long. Và sau đó (tháng 10 năm 1956) ông gia nhập đảng Cần Lao. Sau khi gia nhập đảng Cần Lao, ông phụ trách tổ quân sự, giữ nhiệm vụ nghiên cứu về chiến lược và chiến thuật quân sự và huấn luyện quân sự cho các đảng viên Cần Lao. Tháng 1 năm 1957 Phạm Ngọc Thảo tham gia biên tập bán nguyệt san Bách Khoa - tạp chí của một nhóm trí thức đảng Cần Lao. Sau đó được Ngô Đình Diệm đưa sang ngạch quân sự với cấp bậc đại úy đồng hóa trong quân đội Sài Gòn. Tuy nhiên đây chỉ là những chức vụ ‘’hữu danh vô thực’’ vì Diệm-Nhu khi đó chưa thực sự tin tưởng cũng như chưa nhận thấy hết khả năng của ông.

Thời gian này ông đã biết sử dụng vốn binh pháp Tôn Tử mà ông Hoàng Đạo Thuý từng dạy ở Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn để viết báo. Thời gian này, ông cộng tác với tạp chí Bách khoa. Chỉ trong hơn một năm, ông đã viết 20 bài báo nói về các vấn đề chiến lược, chiến thuật, nghệ thuật chỉ huy, huấn luyện quân sự, phân tích binh pháp Tôn Tử, Trần Hưng Đạo.... Những bài báo đó đã được giới quân sự chú ý và Diệm – Nhu đề cao “tầm” của ông. Năm 1957, ông được điều về làm việc tại Phòng Nghiên cứu chính trị của Phủ tổng thống với hàm thiếu tá. Ông rất được Ngô Đình Diệm tin dùng trong lĩnh vực chính trị, tình báo và an ninh nội bộ. Từ đó, ông lần lượt giữ các chức vụ tỉnh đoàn trưởng tỉnh đoàn bảo an Vĩnh Long, rồi chỉ huy trưởng bảo an tỉnh Bình Dương.

Năm 1960, sau khi học một khóa chỉ huy và tham mưu ở Trường võ bị Đà Lạt, Phạm Ngọc Thảo được thăng thiếu tá và được cử làm Thanh tra Khu Trù Mật. Đầu những năm 60, trước cao trào đồng khởi ở Bến Tre, Diệm đã cử ông giữ chức tỉnh trưởng tỉnh này (khi ấy là tỉnh Kiến Hòa) với cấp bậc trung tá và muốn trắc nghiệm chương trình bình định. Sau khi nhậm chức, tình hình Bến Tre trở lên yên ổn hơn, ông quyết định thả ngay hơn 2000 tù nhân đang bị giam giữ, liên lạc với bà Nguyễn Thị Định, tạo điều kiện cho khởi nghĩa Bến Tre bùng nổ. Chính sách không cho binh lính đàn áp dân chúng tuỳ tiện của ông đã “bật đèn xanh” cho phong trào “đồng khởi”. Tiếp đó, có dư luận nghi ngờ ông là cộng sản nằm vùng. Nhưng Diệm-Nhu lại cho rằng ông còn “non nớt”, thiếu kinh nghiệm nên chuyển anh sang Mỹ học tập tại Trường sĩ quan tham mưu (Command and General Staff College ở bang Kansas). Từ đó Bến Tre lại tiếp tục ‘’mất an ninh.

Năm 1961, ông về nước được cử giữ chức Tham vụ chuyên môn Phủ tổng thống, đặc trách về vấn đề Thanh tra và ấp chiến lược. Ông được giới tướng lĩnh rất quý mến vì sự thông minh, lịch thiệp, phóng khoáng, giao du rộng…

Tháng 9 năm 1963, Trần Kim Tuyến nguyên Giám đốc Sở Nghiên cứu chính trị (thực chất là phòng mật vụ) và ông âm mưu một cuộc đảo chính. Phạm Ngọc Thảo đã kêu gọi được một số đơn vị như Quân đoàn 3, Quân đoàn 4, Biệt động quân, Bảo an... sẵn sàng tham gia. Tuy nhiên cuộc đảo chính không thành công, vì ngày 6 tháng 9 năm 1963, Ngô Đình Diệm đã cử Trần Kim Tuyến đi làm Tổng lãnh sự tại Ai Cập.

Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ ngày 1 tháng 11 năm 1963, mọi sĩ quan đều được phong chức riêng ông không được phong chức gì vì lí do chưa qua trường lớp, để lôi kéo ông về phía mình Mỹ đề nghị cho ông san Mỹ học trường võ bị cao cấp.

Thời điểm này tại Sài Gòn liên tục diễn ra các cuộc đảo chính. Học xong về nước đúng vào thời điểm Nguyễn Khánh đảo chính thành công. Nhưng Nguyễn Khánh chỉ là người võ biền, học vấn không cao, nhiều lần không trả lời nổi những chất vấn của quần chúng biểu tình. Ông về , Nguyễn Khánh bèn tận dụng tài nói, viết của ông, phong ngay hàm Đại tá và giao cho anh trọng trách là phát ngôn viên Chính phủ, Tuỳ viên báo chí của Nguyễn Khánh.

Ngày 13/9/1964, ông tham gia tổ chức cuộc đảo chính lật đổ Nguyễn Khánh. Nhưng do nhiều lí do, cuộc đảo chính thất bại. Ông phải đi Mỹ làm tùy viên quân sự. Đầu năm 1965, Phạm Ngọc Thảo bị gọi về nước vì chính quyền Sài Gòn đã nghi ngờ, muốn bắt ông. Vì vậy, ông đã đào nhiệm và bí mật liên lạc với các lực lượng đối lập khác như Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát để tổ chức đảo chính ở Sài Gòn và vì một lí do vô cùng quan trọng. Theo một tài liệu mà ông nắm được, Mỹ và Nguyễn Khánh đã thoả thuận sẽ ném bom xuống miền Bắc vào 20/2/1965, vì vậy cuộc đảo chính sẽ tiến hành đúng ngày 19/2.

Ngày 19 tháng 2 năm 1965, đảo chính nổ ra, mặc dù đang bị truy bắt gắt gao ông vẫn cùng Lâm Văn Phát đem quân và xe tăng vào chiếm trại Lê Văn Duyệt, đài phát thanh Sài Gòn, bến Bạch Đằng và sân bay Tân Sơn Nhất. Nhưng chỉ làm chủ đài phát thanh trong một thời gian ngắn, rồi bị dập tắt xong cũng làm Nguyễn Khánh đào thoát bằng máy bay ra Vũng Tàu. Tuy nhiên cuộc đảo chính này cũng làm Nguyễn Khánh mất chức, phải ra nước ngoài làm đại sứ lưu động. Đồng thời kí kết giữa Nguyễn Khánh về việc đổ thêm quân vào miền Nam và đánh bom miền Bắc không thành công.

Chính quyền miền Nam rơi vào tay nhóm tướng lĩnh khác, ông phải rút lui vào hoạt động bí mật. Nhưng ông tiếp tục chuẩn bị tư tưởng cho các hoạt động cách mạng bằng cách xuất bản tờ báo “Việt Tiến”, mỗi ngày phát hành trên 50.000 tờ, tuyên truyền tinh thần yêu nước, vạch trần âm mưu của Mỹ – Nguỵ. Ông có cả một hàng rào bảo vệ rộng lớn từ các xứ đạo Biên Hoà tới Hố Nai, Thủ Đức, Sài Gòn; có nhiều linh mục giúp đỡ in ấn, phát hành tờ Việt Tiến. Lúc này, ông bị chính quyền Kỳ – Thiệu kết án tử hình quyết tâm trừ khử vì thấy rõ tầm nguy hiểm của ông, người ta treo giải 3 triệu đồng cho ai bắt được nhưng vẫn liên lạc với cơ sở cách mạng trực tiếp là ông Sáu Dân (Võ Văn Kiệt) để hoạt động tiếp.

Trước tình hình đó, ông Võ Văn Kiệt có đề nghị đưa ông ra chiến khu nhưng ông nói vẫn còn khả năng tổ chức đảo chính khác, vẫn còn khả năng thành công vì ông muốn ngăn chặn việc quân Mỹ tăng quân ồ ạt vào miền Nam cuối tháng 5 năm 1965. Đại sứ quán Mỹ cũng đề nghị đưa ông ra nước ngoài nhưng ông từ chối.

Phạm Ngọc Thảo phải trốn nhiều nơi, cuối cùng đến trốn trong Đan viện Phước Lý ở xã Vĩnh Thanh, huyện Nhơn Trạch, Biên Hòa. Cuối cùng nơi trú ẩn này cũng bị lộ. Lúc 3 giờ sáng ngày 16 tháng 7 năm 1965, khi ông vừa ra khỏi Đan viện Phước Lý thì bị phục sẵn bắt rồi đưa về một cái suối nhỏ gần Tam Hiệp, Biên Hòa, để thủ tiêu. Sợ ông chạy trốn nên anh ninh quân đội ngụy nổ súng luôn. Nhưng viên đạn xuyên xuống hàm làm ông gẫy mất mấy cái răng, ngã vật ra. Vừa lúc có tiếng những người công nhân đi cạo mủ cao su, an ninh quân đội ngụy sợ lộ bèn quay xe bỏ chạy.

Tỉnh dậy, ông cố lết về một nhà thờ. Sau khi được linh mục Cường cứu sống, ông chủ động xin chuyển tới chỗ khác phòng khi an ninh quân đội tới truy tìm. Nhưng sau ông vẫn bị phát hiện và bị bắt anh về giam tại Cục an ninh quân đội ngụy, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tại đây, chúng đã dùng những thủ đoạn tra tấn anh hết sức dã man như: dùng cây nhọn xoáy vào vết thương, đánh đập, tra điện. Thế nhưng khi được hỏi : “Nếu được tự do Đại tá sẽ làm gì?”. Ông hiên ngang trả lời: “Tôi sẽ tiếp tục sứ mạng cho tơí lúc thành công”.

Bị đánh đập dã man, không nói được nhưng ông vẫn dùng bút viết ra giấy những lời đanh thép lên án chúng như: “Chúng mày biết tao là Việt cộng thì đừng bao giờ hi vọng tao khai. Một là sống, hai là chết, tao vẫn tiếp tục con đường của tao...”. Vì cay cú, Nguyễn Ngọc Loan đã dùng cả hành vi bẩn thỉu, đê hèn tra tấn với dã tâm để ông chết rồi bí mật mang chôn giấu tại nghĩa trang quân sự Gò Vấp với tấm bảng ghi “Mộ vô danh”.

Ngày 18/7/1965, các báo chí Sài Gòn đăng tin đại tá Phạm Ngọc Thảo chết vì bị thương trong một tai nạn giao thông. Nguỵ quyền Sài Gòn sau khi biết ông là cộng sản đã gọi ông là “vua đảo chánh” với nỗi khiếp sợ. Tướng 4 sao Oét-mô-len, Tổng chỉ huy quân đội Mỹ ở miền Nam trong hồi ký đã gọi Phạm Ngọc Thảo là một nhà “cách mạng chuyên nghiệp”.

Năm 1987, ông được Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam truy tặng anh danh hiệu cao quý: Anh hùng LLVTND. Hiện nay, mộ Phạm Ngọc Thảo được đưa về nghĩa trang TP.HCM, trên đồi Lạc Cảnh(huyện Thủ Đức). Mộ ông nằm cạnh mộ những tên tuổi nổi tiếng như Lưu Hữu Phước, Phạm NgọcThạch, Can Trường...

Trong cuộc trường chinh giải phóng dân tộc Việt Nam, người xứng đáng được coi là "nhà tình báo vĩ đại nhất". Có thể so sánh với Rihard Gioorgie, Kim Filby của Liên Xô không phải Vũ Ngọc Nhạ hay Phạm Xuân Ẩn mà chính là nhà tình báo chiến lược, Đại tá Anh hùng QDNDVN Phạm Ngọc Thảo. Ông chính là nguyên mẫu của nhân vật Nguyễn Thành Luân trong tiểu thuyết nổi tiếng Ván Bài Lật Ngửa.

Có 3 đặc điểm lớn để có thể xác định Đại tá Phạm Ngọc Thảo là nhà tình báo vĩ đại nhất của Việt Nam trong thế kỷ 20:

Khác với Vũ Ngọc Nhạ và Phạm Xuân Ẩn, Phạm Ngọc Thảo là người duy nhất có thể tác động trực tiếp đến chính quyền Sài Gòn . Là sỹ quan cao cấp trong quân đội ngụy lai có lực lượng trong tay, ông chính là người đã trực tiếp đạo diễn và tham gia chỉ đạo hàng loạt vụ đảo chính làm rung chuyển nền chính trị Miền Nam những năm 64-65, gây mất ổn định nghiêm trọng chế độ Sài Gòn, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng miền Nam. Nếu cuộc đảo chính với Lâm Văn Phát gạt Nguyễn Khánh năm 1964 thành công, Phạm Ngọc Thảo trở thành thủ tướng chính quyền Sài Gòn thì lịch sử có thể đã có những thay đổi lớn.

Khác với Vũ Ngọc Nhạ và Phạm Xuân Ẩn, Phạm Ngọc Thảo là nhà tình báo hoạt động đơn tuyến, không hề có đồng đội trực tiếp hỗ trợ mà chỉ chịu sự chỉ đạo về chiến lược của Bác Hồ và Tổng Bí thư Lê Duẩn . Ông không làm công tác đưa tin đơn thuần mà lớn hơn là được giao nhiệm vụ "thay đổi chế độ tại miền Nam" (tương tự như mục tiêu regime change của Mỹ tại I-rắc, nhưng nếu như Mỹ phải dùng đến hàng chục vạn quân thì ta chỉ dùng 1 mình Phạm Ngọc Thảo và ở chừng mực nào đấy đã thành công). Sự nguy hiểm của Phạm Ngọc Thảo đối với tồn vong của chế độ miền Nam lý giải tại sao chính quyền Thiệu-Kỳ phải quyết bằng mọi giá thủ tiêu ông.

Ông là một con người cực kỳ dũng cảm và tài năng. Mỹ đã từng chọn ông để đào tạo trở thành Tổng thống tương lai của chính quyền Sài Gòn, đến khi nguy hiểm đã cận kề dù ông Võ Văn Kiệt khuyên ông có thể ra căn cứ nhưng ông vẫn quyết tâm ở lại để tổ chức vụ đảo chính cuối cùng. Việc lớn không thành, bị bắt và tra tấn dã man nhưng Phạm Ngọc Thảo vẫn không để lộ tung tích của mình. Cho đến lúc hy sinh, không ai biết ông là một chiến sỹ tình báo của ta. Nghe tin ông hy sinh, Bác Hồ và ông Lê Duẩn đã khóc. Sau này, trong dòng đề tựa trong cuốn Ván Bài Lật Ngửa, nhà văn Trần Bạch Đằng đã trân trọng viết "Tưởng nhớ anh Chín T. và những người đã chiến đấu hy sinh thầm lặng".

Bài viết : Theo báo Quân đội Nhân dân, Báo Công an Nhân dân, Trang tin điện tử Bến Tre

Bình luận (0)

Tối đa 500 ký tự

Cancel or