Thứ 504242014

Cập nhật01:18:53 AM

Người Việt tốt, người Việt xấu

Tính cộng đồng và tính tự trị (trong làng xã VN) là hai đặc trưng gốc rễ, chúng chính là nguồn gốc sản sinh ra hàng loạt những ưu điểm nhược điểm trong tính cách của người Việt Nam. Những đặc điểm đó có thể tổng kết trong bảng dưới (hình2)

 

1. Tính cộng đồng chú trọng nhấn mạnh vào sự ĐỒNG NHẤT: cùng họ là đồng tộc , cùng tuổi là đồng niên , cùng nghề là đồng nghiệp , cùng làng là đồng hương…..

Do đồng nhất (giống nhau- “cùng hội cùng thuyền”, “cùng cảnh ngộ”) cho nên người Việt Nam luôn sẵn sàng đoàn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, coi mọi người trong cộng đồng như anh chị em trong nhà: “tay đứt ruột xót”, “ chị ngã em nâng”, “lá lành đùm lá rách”…… Do đồng nhất (giống nhau) cho nên người Việt Nam luôn có tính tập thể rất cao, gắn bó với tập thể, hòa đồng vào cuộc sống chung của tập thể. Sự đồng nhất (giống nhau) cũng chính là ngọn nguồn của nếp sống dân chủ -bình đẳng bộc lộ trong nguyên tắc tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú, theo nghề nghiệp, theo giáp

Mặt khác, lại cũng chính do đồng nhất (giống nhau) mà ở người Việt Nam, ý thức về con người cá nhân bị thủ tiêu: Người Việt rất ít xưng tôi, mà luôn hòa tan vào các mối quan hệ xã hội: với người này xưng em , với người kia là cháu , với người khác nữa là anh/chị….. ; thậm chí thích dùng đại từ ngôi thứ nhất số nhiều ta (ta với mình). Cách giải quyết xung đột theo lối hòa cả làng là hết sức phổ biến. Điều này khác hẳn với truyền thống văn hóa phương Tây, nơi con người được rèn luyện ý thức về cá nhân từ khi còn nhỏ, đến tuổi thành niên, con người đã hoàn toàn sống tách biệt khỏi gia đình; chính vì vậy mà khi về già người phương Tây thường cô đơn, còn cụ già Việt Nam thì sum vầy trong tình cảm của đàn con cháu.

Sự đồng nhất (giống nhau) còn dẫn đến chỗ người Việt Nam hay có thói dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể: Nước trôi thì bèo trôi, Nước nổi thì thuyền nổi. Tệ hại hơn nữa là tình trạng Cha chung không ai khóc, Lắm sãi không ai đóng cửa chùa…. Cùng với thói dựa dẫm, ỷ lại là tư tưởng Cầu an (an phận thủ thường) cả nể, làm gì cũng sợ rút dây động rừng nên có việc gì thường chủ trương đóng cửa bảo nhau…..

Một nhược điểm trầm trọng thứ ba là thói cào bằng, đố kị, không muốn cho ai hơn mình (để cho tất cả đều đồng nhất, giống nhau ! ): Xấu đều hơn tốt lỏi; Khôn độc không bằng ngốc đàn; Chết một đống còn hơn sống một người… Để cho tất cả đều “như nhau”, một thời, đã có không ít những cơ quan, xí nghiệp điềm nhiên treo cao khẩu hiệu: Tất cả dàn hàng ngang cùng tiến!

Những thói xấu có nguồn gốc từ tính cộng đồng này khiến cho ở Việt Nam, khái niệm “giá trị” trở nên hết sức tương đối (nó khẳng định đặc điểm tính chủ quan của lối tư duy nông nghiệp): Cái tốt, nhưng là tốt riêng rẽ thì trở thành xấu (khôn độc không bằng ngốc đàn); ngược lại, cái xấu, nhưng là xấu tập thể thì trở nên bình thường:

Toét mắt là tại hướng đình

Cả làng toét mắt riêng  mình em đâu!

 

2. Tính tự trị chú trọng nhấn mạnh vào SỰ KHÁC BIỆT. khởi đầu là sự khác biệt của cộng đồng (làng, họ) này so với cộng đồng (làng, họ) khác. Sự khác biệt – cơ sở của tính tự trị- tạo nên tinh thần tự lập cộng đồng: mỗi làng, mỗi tập thể hoạt động độc lập với tập thể khác, phải tự lo liệu lấy mọi việc. Vì phải tự lo liệu, nên con người Việt Nam có truyền thống cần cù, có tính chịu thương chịu khó đầu tắt mặt tối, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Nó cũng tạo nên nếp sống tự cấp tự túc: mỗi làng tự đáp ứng mọi nhu cầu cho cuộc sống của làng mình; mỗi nhà có vườn rau, chuồng gà, ao cá tự đảm bảo nhu cầu về ăn, có bụi tre, rặng xoan, gốc mít tự đảm bảo nhu cầu về ở.

Mặt khác, cũng chính do sự nhấn mạnh vào sự khác biệt – cở sở của tính tự trị - mà người Việt Nam có thói xấu là óc tư hữu, ích kỉ: bè ai người ấy chống; Ruộng ai người ấy đắp bờ; Ai có thân người ấy lo, ai có bò người ấy giữ; Thân trâu trâu lo, thân bò bò liệu…. Óc tư hữu ích kỉ này sinh ra từ tính tự trị của làng xã Việt và đã luôn bị chính người Việt phê phán: Của mình thì giữ bo bo, của người thì để cho bò nó ăn; Của người bồ tát, của mình buộc lạt…..

Thói xấu thứ hai có nguồn gốc từ tính tự trị là óc bè phái, địa phương cục bộ: Làng nào biết làng ấy, chỉ lo vun vén cho địa phương mình: trống làng nào làng ấy đánh; thánh làng nào làng ấy thờ; trâu ta ăn cỏ đồng ta; Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn….

Một biểu hiện thứ ba của tính khác biệt –cơ sở của tính tự trị- là óc gia trưởng, tôn ti: Tính tôn ti, sản phẩm của nguyên tắc tổ chức nông theo huyết thống, tự thân nó không phải là xấu, nhưng khi nó gắn liền với óc gia trưởng, tạo nên tâm lí quyền huynh thế phụ, áp đặt ý muốn của mình cho người khác trong quan hệ xã hội, tạo nên tư tưởng thứ bậc vô lí Sống lâu lên lão làng; Áo mặc không qua khỏi đầu, thì nó trở thành một lực cản đáng sợ cho sự phát triển xã hội, nhất là khi mà thói gia đình chủ nghĩa, một nhược điểm sinh đôi cùng óc gia trưởng, vẫn đang là một căn bệnh lan tràn trong xã hội.

Đặc điểm môi trường sống quy định đặc tính tư duy. Cả hai quy định tính cách của dân tộc. Lối tư duy tổng hợp và biện chứng của người nông nghiệp lúa nước, như ta đã biết, dẫn đến sự hình thành nguyên lí âm dương và lối tư duy nước đôi. Cho nên tính cách dân tộc Việt Nam thường mang tính chất nước đôi: Người Việt đồng thời vừa có tinh thần đoàn kết tương trợ lại vừa có óc tư hữu, ích kỉ và thói cào bằng, đố kị; vừa có tính tập thể hòa đồng lại vừa có óc  bè phái, địa phương; vừa có nếp sống dân chủ bình đẳng lại vừa có sự thủ tiêu vai trò cá nhân; và có tính cần cù và nếp sống tự cấp tự túc lại và có thói dựa dẫm, ỷ lại. Tất cả  những cái tốt và cái xấu ấy cứ đi thành từng cặp và đều tồn tại ở người Việt Nam; bởi lẽ tất cả- cái tốt và cái xấu ấy- đều bắt nguồn từ hai đặc trưng gốc trái ngược nhau là tính cộng đồng và tính tự trị (phạm vi làng xã)

Tùy lúc tùy nơi mà mặt tốt hoặc mặt xấu sẽ được phát huy: khi con người đứng trước những khó khăn lớn, những nguy cơ đe dọa sự sống còn của cả cộng đồng thì cái nổi lên sẽ là tinh thần đoàn kết và tính tập thể; nhưng khi nguy cơ ấy qua đi rồi thì có thể là thói tư hữu và óc bè phái, địa phương lại nổi lên.


hình 2

(Trang 219->222, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam- Trần Ngọc Thêm)

Bình luận (0)

Tối đa 500 ký tự

Cancel or